A steaming hot soup with the red of tomato and the smell of fried spring onion, coupled with the fatness of stuffed snails and the sweetness of helix snails, is a common order customers place for Tuyet, the owner of a shop on Hang Chinh street, to prepare.
A snail is spiraled out along with a layer of thick wax, accompanied by the subtle smell of thickened vinegar, with stewed chilli paste and raw herbs added. And customers find it hard to resist the temptation while lavishing praise on the flavour.
It seems that it must be in Hanoi that you can taste the best bun oc (rice vermicelli with sweet snail). The common dish has gone through the nimble hands of grandmothers, aunts and young ladies in the capital city to become an exotic mouth-watering specialty that you cannot find anywhere else.
Tuyet on Hang Chinh, Hue on Dang Dung, another Hue on Nguyen Sieu, Xuan on O Quan Chuong, Giang on Luong Ngoc Quyen – which was once visited by the host of the Anthony Bourdain: Parts Unknown – and Them on Hang Chai, and more, are familiar restaurants for those who can’t help falling in love with the dish.
One of the bun oc restaurants for those who can’t help falling in love with the dish (Photo: VietnamPlus)
How to make a tasty bowl of bun oc?
A well-known restaurant for residents in the Old Quarter of Hanoi, Hue’s bun oc on Nguyen Sieu street, is located in a modest space, to the point that passersby could easily miss. But that is only the case for amateurs, while for gourmets, just upon arriving on the street, their eyes will eagerly search for the woman sitting close to a door, about 50 years old yet resourceful and quick with her hands to pick the right amount of rice vermicelli and pour the soup into the bowls. Hue has become a family member of many customers.
Revealing her know-how, she said the most important thing for a delicious bowl of bun oc lies in the quality of thickened vinegar. To buy the good vinegar that goes well with bun oc, she has to look all over of the northern province of Bac Ninh, adding that the good vinegar still maintains the smell of sticky rice as well as its own subtle sweetness.
When pouring steaming hot soup with a ladle into a “harmony” comprising of bun (rice vermicelli), oc (snail), dau (fried tofu), raw herbs (marjoram, sliced banana stalk, banana blossom and balm-mint are must-have), and a little of mam tom (shrimp paste), the flavour will wake up everyone’s sense of smell.
With good thickened vinegar, the soup will be done by creating a mixture between the vinegar and the broth collected from the water used to boil snails. It could be used for both hot and cool bun oc.
For the cool type, the soup must be clear so that eaters could see snails at the bottom of the bowl. Chilli paste should be hot enough to honour the subtle flavour of vinegar and neutralise the “coldness” of snails.
For the steaming hot type, the soup is cooked with simmered tomatoes and boiled with low fire for the whole day. It requires a special technique so that the soup will have the bright red colour of tomatoes and the smell of thickened vinegar and snail.
The soup is cooked with simmered tomatoes (Photo: VietnamPlus)
Stories behind bun oc bowls
The dish sounds simple to make, but it is not easy to cook a perfect bowl of bun oc. Just the preparation for the ingredients needs efforts and hard work.
Each bun oc vendor needs to prepare right from the previous day’s evening, starting with boiling, pulling out each snail and creating the soup for the whole day.
Each bun oc vendor needs to prepare right from the previous day’s evening, starting with boiling, pulling out each snail and creating the soup for the whole day.
(Photo: VietnamPlus)
In the past, vendors had to comb streets looking for customers. Hue was hired by an old lady, then she had her own and has been keeping the job, selling bun oc on the streets for 30 years. She has settled down at the current location for nearly five years.
Now bun oc is a familiar dish with Hanoians (Photo: VietnamPlus)
Now bun oc is a familiar dish with Hanoians. There are still street vendors like Giang on Luong Ngoc Quyen street, while there are many others with plastic stools and tiny spaces like Hue on Nguyen Sieu street, and those next to each other by Ho Tay (West Lake). And bun oc is even served at five-star hotels and famous buffet restaurants.
Bun oc is a vital part of the gastronomy of Kinh Ky (former name of Hanoi)./.
Bun oc is a vital part of the gastronomy of Kinh Ky (Photo: VietnamPlus)
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của nhân dân Việt Nam, là người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang cách mạng. Người đã trực tiếp sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tầm nhìn chiến lược
Với tầm nhìn chiến lược và nhạy bén, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tích cực chuẩn bị cho sự ra đời của một quân đội cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước bàn kế hoạch mở Chiến dịch Điện Biên Phủ tại An toàn khu Định Hóa, Thái Nguyên (6/12/1953). (Ảnh tư liệu TTXVN)
Từ năm 1925 đến năm 1927, tại Quảng Châu (Trung Quốc) Người mở các lớp đào tạo cán bộ để “ươm mầm” những “hạt giống đỏ” cho cách mạng Việt Nam.
Sau 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn bể tìm đường cứu nước, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng.
Sau 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn bể tìm đường cứu nước, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng.
Người vẫn tiếp tục cử đồng chí Võ Nguyên Giáp ở lại Trung Quốc học tập “Chú Văn phải chú trọng thêm quân sự” và tham gia mở các lớp đào tạo cán bộ quân sự cho cách mạng Việt Nam.
Tháng 10/1941, Người giao nhiệm vụ cho các đồng chí Lê Thiết Hùng, Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm mở lớp huấn luyện quân sự tập trung đầu tiên tại Pắc Bó để tiến tới thành lập đội vũ trang cách mạng. Người trực tiếp tham gia huấn luyện cho các đội viên.
Để có tài liệu giảng dạy, Người đã biên soạn các tài liệu quân sự quan trọng như “Mười điều kỷ luật,” “Cách đánh du kích,” “Những hiểu biết cơ bản về quân sự,” “Kinh nghiệm du kích Nga”…
Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp các chiến sỹ bộ đội trên đường đi Chiến dịch Biên giới năm 1950. (Ảnh tư liệu TTXVN)
Đầu tháng 12/1944, tại Pác Bó (Cao Bằng), Bác triệu tập đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Vũ Anh đến để nghe báo cáo về tình hình phong trào cách mạng của ba tỉnh Cao-Bắc-Lạng và chủ trương phát động chiến tranh du kích Liên tỉnh ủy.
Bác chỉ định đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công tác thành lập lực lượng vũ trang tập trung. Nửa tháng sau, Bác gửi một bức thư cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, trong đó xác định: phương thức hoạt động của lực lượng vũ trang là “chính trị trọng hơn quân sự,” “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”; nguyên tắc tổ chức lực lượng là “sẽ chọn những đội viên kiên quyết nhất, hăng hái nhất trong hàng ngũ du kích Cao-Bắc-Lạng và tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”; phương châm tác chiến là “vận dụng lối đánh du kích mau lẹ, linh hoạt, bí mật, bất ngờ.”
Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập gồm 34 chiến sỹ, biên chế thành 3 tiểu đội.
Đồng chí Hoàng Sâm được cử làm Đội trưởng. Đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi chuyện một chiến sỹ có nhiều thành tích về dự Đại hội toàn quốc các chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu lần thứ nhất (30/4 – 6/5/1952) ở Việt Bắc.(Ảnh tư liệu TTXVN)
Những ngày đầu mới thành lập, tuy lực lượng ít, trang bị vũ khí thô sơ nhưng Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu cho trang sử truyền thống “bách chiến, bách thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, cùng toàn dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, cùng toàn dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu;” từng bước “đánh cho Mỹ cút,” “đánh cho ngụy nhào” mà đỉnh cao nhất là cuộc tổng tiến công chiến lược mùa xuân 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Đến đây, Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, quét sạch quân thù xâm lược, thu non sông đất nước về một mối.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các chiến sỹ tại Đại hội thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của các lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ nhất. (Nguồn: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm một đơn vị bộ đội ở Nam Định (1957).(Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Lữ đoàn xe tăng 202 (5/10/1959). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và cùng ăn cơm trên tàu với cán bộ, chiến sĩ bộ đội hải quân bảo vệ bờ biển Quảng Ninh (1965). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm triển lãm thành tích của bộ đội Công binh (1958). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm bộ đội Hải quân (1959). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh trao thưởng cho cán bộ, chiến sỹ các đơn vị phòng không và hải quân trong trận đầu ra quân đánh thắng máy bay Mỹ (2 và 5/8/1964). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Ngày kỷ niệm thành lập QĐND Việt Nam, 22/12/1962. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ (1966), Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sỹ đơn vị pháo cao xạ Quân khu III có thành tích bắn rơi máy bay Mỹ. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đoàn đại biểu Anh hùng, Chiến sĩ thi đua và Dũng sỹ diệt Mỹ của Quân giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc (20/7/1968). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Nhân dịp Tết nguyên đán Đinh Mùi (2/1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn không quân 921-Đoàn Không quân Sao Đỏ. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ Viện Quân y 7 (Hải Phòng) ngày 30/5/1957. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Bác Hồ thăm và nói chuyện với một đơn vị bộ đội trong kháng chiến chống Pháp. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh đội chiếc mũ Hải quân nhân dân Việt Nam khi đến thăm một đơn vị hải quân đang sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng biển Tổ quốc, ngày 22/1/1962. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một đơn vị Hải quân nhân dân (1959). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn các chiến sỹ lái máy bay của Không quân nhân dân Việt Nam có nhiều thành tích trong chiến đấu (4/1966). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đơn vị công binh Quân khu 3 nhân dịp Tết nguyên đán Bính Ngọ (21/1/1966). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Nhân dịp Tết nguyên đán Đinh Mùi (1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn không quân 921-Đoàn Không quân Sao Đỏ. (Ảnh tư liệu TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Tiểu đoàn 61 thuộc Trung đoàn tên lửa 236-Đoàn Tên lửa Sông Đà, ngày 26/8/1965 sau chiến thắng trận đầu của Bộ đội tên lửa phòng không. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đoàn đại biểu các đơn vị quân đội nhân dịp kỷ niệm lần thứ 13 Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1957). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm và giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 316 trở lại Tây Bắc để xây dựng nông trường Điện Biên, ngày 10/3/1958. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Bác Hồ tiếp Đoàn đại biểu Anh hùng, Chiến sỹ thi đua các Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc, ngày 15/11/1965. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đoàn đại biểu Anh hùng, Chiến sĩ thi đua và Dũng sỹ diệt Mỹ của Quân giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc (20/7/1968). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp thị sát buổi diễn tập cấp Trung đoàn tấn công của Sư đoàn 308 tại Sơn Tây, năm 1957. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước bàn kế hoạch mở Chiến dịch Điện Biên Phủ tại An toàn khu Định Hóa, Thái Nguyên (6/12/1953).(Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi chuyện một chiến sỹ có nhiều thành tích về dự Đại hội toàn quốc các chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu lần thứ nhất (30/4 – 6/5/1952) ở Việt Bắc. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một đơn vị miền Nam tập kết tổ chức diễn tập trước khi trở lại chiến trường (6/1957). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp các chiến sỹ bộ đội trên đường đi Chiến dịch Biên giới năm 1950. (Ảnh tư liệu TTXVN)
Bác Hồ tặng Huy hiệu “Chiến sỹ Điện Biên” cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Chiến dịch Biên giới (1950) bàn kế hoạch tác chiến. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Tiếp tục phụng sự Tổ quốc và nhân dân, những năm sau khi đất nước thống nhất, Quân đội nhân dân Việt Nam lại cùng toàn dân liên tục đánh bại các thế lực xâm lược trên các tuyến biên giới phía Bắc và phía Tây Nam, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia, góp phần tích cực vào bảo vệ công cuộc lao động hoà bình, ổn định đất nước, tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh của Tổ quốc.
Người Cha thân yêu
Như một người cha chăm sóc đứa con yêu, Bác ngày đêm chăm lo trau dồi bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân cho Quân đội, Bác coi đó là yếu tố cơ bản nhất để tạo nên sức mạnh vô địch của Quân đội nhân dân.
Người nói “Giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất, mà Đảng vô sản là bộ tham mưu của giai cấp công nhân.”
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đoàn đại biểu Anh hùng, Chiến sỹ thi đua và Dũng sỹ diệt Mỹ của Quân giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc (20/7/1968). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Bản chất ấy được thể hiện trên các lĩnh vực chính trị-tư tưởng, tổ chức xây dựng và hoạt động chiến đấu của Quân đội nhân dân. Nói cách khác, toàn bộ đời sống chiến đấu của Quân đội nhân dân đều quán triệt lập trường, quan điểm, ý chí của giai cấp công nhân.
Trước hết điều đó thể hiện ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội nhân dân là độc lập dân tộc, ruộng đất cho dân cày, thống nhất nước nhà và đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là sự ham muốn tột bậc của Người.
Quân đội nhân dân chiến đấu cho mục tiêu, lý tưởng đó nhằm giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc ta thoát khỏi ách nô lệ, áp bức bóc lột của chế độ phong kiến và của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.
“Độc lập dân tộc,” “ruộng đất dân cày,” tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu cũng là khát vọng lâu đời, cháy bỏng của cả dân tộc.
Nhân dịp Tết nguyên đán Đinh Mùi (1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn không quân 921-Đoàn Không quân Sao Đỏ. (Ảnh: TTXVN)
Chiến đấu cho mục tiêu đó Quân đội Việt Nam luôn luôn được sự đùm bọc yêu thương, hết lòng ủng hộ giúp đỡ của nhân dân và nhân dân cũng coi quân đội thực sự là con em của mình.
Quân đội Việt Nam chiến đấu cho mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là chiến đấu cho lợi ích của chính bản thân và gia đình mình. Mỗi cán bộ, chiến sỹ nhận rõ quyền lợi, hạnh phúc của mình đều gắn bó với sự nghiệp cách mạng, nên chiến đấu với tinh thần tự nguyện, quyết xả thân hy sinh cho thắng lợi của cách mạng, không khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào của dân tộc, của giai cấp.
Nhờ vậy, Quân đội Việt Nam đã không ngừng tạo ra sức mạnh tinh thần, sức mạnh vật chất để hoàn thành vẻ vang mọi nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu qua các thời kỳ cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân giao phó.
Đúng như lời Người nói “Quân đội ta là quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Mới ra đời với gậy tày, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công. Lên mười tuổi đã cùng toàn dân giành được thắng lợi lớn Điện Biên Phủ, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp được Mỹ giúp sức.
Bác Hồ tặng Huy hiệu “Chiến sỹ Điện Biên” cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Quân đội ta anh dũng trong kháng chiến và cũng anh dũng trong hòa bình… Quân đội ta cũng đã góp phần tích cực xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa làm tròn nhiệm vụ của một quân đội cách mạng.”
Đây là nhân tố cơ bản đầu tiên quyết định bản chất giai cấp công nhân của quân đội và là nguồn gốc mọi thắng lợi của quân đội Việt Nam.
Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một Quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục.(Hồ Chí Minh)
Bác khẳng định “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một Quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục.”
Trong xây dựng quân đội, Người luôn chăm lo đến việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sỹ. Người nói “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội ta là Quân đội nhân dân. Nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là Quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng.”
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ Viện Quân y 7 (Hải Phòng) ngày 30/5/1957. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
“Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy cần phải học thêm… Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại.”
Bác rất quan tâm đến xây dựng con người: từ việc giáo dục, học hành đến cái ăn, cái mặc, cái ở của bộ đội, đặc biệt là của các chiến sỹ.
Bác chỉ rõ “Cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không có quần chúng thì không làm gì được. Bởi vậy cần phải thương yêu đội viên. Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất, tinh thần của đội viên… Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa có áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới là dân chủ, là đoàn kết, là tất thắng.”
Bác đặc biệt quan tâm xây dựng tình đoàn kết quân dân. Bác thường dạy quân với dân như cá với nước, toàn dân phải chăm lo xây dựng quân đội, còn quân đội phải hết lòng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ sinh mạng, tài sản của nhân dân, không được động đến một cái kim, một sợi chỉ của nhân dân. Rõ ràng truyền thống tốt đẹp “Phụ tử chí tình,” “Quân, dân một lòng” của Tổ tiên đã được Bác phát triển một cách tốt đẹp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và cùng ăn cơm trên tàu với cán bộ, chiến sỹ bộ đội hải quân bảo vệ bờ biển Quảng Ninh (1965). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Những nội dung tư tưởng trên của Bác là phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân hùng mạnh. Quân đội có thể không đông về số lượng, nhưng mạnh ở sự giác ngộ chính trị tư tưởng, thống nhất về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mạnh ở sự đoàn kết quân dân, đoàn kết nhất trí giữa cán bộ và chiến sĩ, mạnh ở mưu trí dũng cảm trong chiến đấu, ở tính năng động sáng tạo trong sử dụng những vũ khí trang bị kỹ thuật phù hợp với cách đánh Việt Nam, chiến trường Việt Nam.
Sức mạnh của Quân đội Việt Nam bắt nguồn từ sự lãnh đạo giáo dục của Đảng, của Bác Hồ, từ sức mạnh và lòng thương yêu đùm bọc của nhân dân, từ chiều sâu nền văn hóa truyền thống dân tộc và sức mạnh thời đại.
Quân đội Việt Nam thực sự trở thành niềm tin, niềm tự hào của nhân dân, đã được nhân dân tặng cho danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ.” “Bộ đội Cụ Hồ” là hình mẫu rất đẹp về đức hy sinh chiến đấu vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, là nhân cách con người Việt Nam mới.
Thấm nhuần lời Bác dạy, 75 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” và suốt 75 năm ấy, luôn “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”./.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đoàn đại biểu Anh hùng, Chiến sỹ thi đua và Dũng sỹ diệt Mỹ của Quân giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc (20/7/1968). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Ngày 2/10/2018, 32 bác sỹ đầu tiên trong tổng số 63 cán bộ, bác sỹ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 của Việt Nam tới thủ đô Juba (Nam Sudan), bắt đầu thực hiện nhiệm vụ tại Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc ở quốc gia Đông Phi này. (Ảnh: TTXVN)
Ngăn chặn xung đột, tăng cường ngoại giao phòng ngừa, giải quyết xung đột thông qua các biện pháp hòa bình, tăng cường chủ nghĩa đa phương, củng cố phát triển bền vững, đấu tranh chống biến đổi khí hậu và thúc đẩy quyền con người – là những ưu tiên giải quyết của Việt Nam trong nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2020-2021.
Có thể nói những ưu tiên này đã thể hiện rõ cam kết của Việt Nam cùng các thành viên khác của Liên hợp quốc chung tay giải quyết các thách thức toàn cầu, tăng cường đối tác toàn cầu vì một thế giới hòa bình, công bằng và phát triển bền vững cho mọi người dân, cũng là mục tiêu cao nhất để bảo đảm quyền con người trên cấp độ toàn cầu.
Với mong muốn thực sự trở thành “Đối tác vì hòa bình bền vững,” trong nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2 năm sắp tới (bắt đầu từ ngày 1/1/2020), Việt Nam sẽ có cơ hội chủ động đề xuất, thúc đẩy những sáng kiến của mình nhằm đóng góp trực tiếp và xây dựng vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, an ninh và phát triển, những yếu tố tiên quyết để bảo đảm và phát huy quyền con người ở bất kỳ nơi đâu.
Trong bối cảnh tình hình thế giới biến động không ngừng, khủng bố, cực đoan, bạo lực, xung đột… đang đe dọa cuộc sống của hàng chục triệu người trên thế giới, việc ngăn ngừa chiến tranh, gìn giữ hòa bình, duy trì môi trường an ninh bền vững, ổn định chính là nền tảng của công cuộc bảo vệ quyền con người trên thế giới. Đó cũng là mục tiêu hàng đầu của Việt Nam trong cam kết thúc đẩy quyền con người.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung, Trưởng đoàn Việt Nam (giữa, phải, hàng hai) tại phiên họp bầu chọn Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. (Ảnh: THX/TTXVN)
Sự kiện Việt Nam được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu ủng hộ gần như tuyệt đối (192/193) cho thấy cộng đồng quốc tế đánh giá cao những đóng góp của Việt Nam vào nỗ lực chung thúc đẩy hòa bình và bảo vệ quyền con người trên thế giới.
Việt Nam đang chủ động đóng góp trực tiếp trong sứ mệnh quốc tế bảo vệ hòa bình, cũng là để bảo vệ quyền con người thông qua việc cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, thực hiện sứ mệnh cao cả, giúp đỡ những nước bị tàn phá do xung đột và chiến tranh củng cố hòa bình, tái thiết đất nước, để tạo ra các điều kiện thúc đẩy quyền con người ở nơi đó, trước hết là quyền được sống trong hòa bình và ổn định.
Những chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam đã đồng hành cùng nỗ lực chung của thế giới để đem lại cuộc sống yên bình, tốt đẹp hơn cho người dân Nam Sudan
Chính thức tham gia đóng góp vào các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc từ năm 2014, sau 5 năm, Việt Nam đã triển khai sỹ quan tại hai phái bộ ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi. Đặc biệt, năm 2018, Việt Nam lần đầu tiên cử Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 thực thi nhiệm vụ ở Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và mới nhất, tháng 11 vừa qua, Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 đã lên đường tới Nam Sudan, sau khi Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 hoàn thành nhiệm vụ.
Những chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam đã đồng hành cùng nỗ lực chung của thế giới để đem lại cuộc sống yên bình, tốt đẹp hơn cho người dân Nam Sudan, giúp họ được thụ hưởng những quyền cơ bản nhất của con người.
Dấu ấn hòa bình của Việt Nam thông qua những đóng góp gìn giữ hòa bình trên thế giới được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, Liên hợp quốc đã trao tặng Huy chương vì sự nghiệp gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc cho Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 của Việt Nam.
Cán bộ, chiến sỹ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 chụp ảnh chung trước khi lên máy bay sang Phái bộ Nam Sudan thực hiện nhiệm vụ. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Trước đó, trong lần đầu tiên đảm nhiệm cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009, Việt Nam cũng đã để lại dấu ấn bằng nỗ lực thúc đẩy các sáng kiến, đóng góp tích cực trong việc giải quyết xung đột, khủng hoảng trên thế giới. Trong nhiệm kỳ này, Việt Nam đã đưa ra thảo luận các vấn đề rất quan trọng như bảo vệ trẻ em, phụ nữ…, những vấn đề cốt yếu trong thúc đẩy quyền con người, trong đó phải kể đến Nghị quyết của Liên hợp quốc về phụ nữ, hòa bình và an ninh.
Với vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, Việt Nam đã tham gia tích cực và thực chất vào các diễn đàn quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các cơ chế khác; chủ động đưa ra và được cộng đồng quốc tế hoan nghênh các sáng kiến về quyền con người, đặc biệt về nội dung liên quan đến bảo đảm quyền phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, những người chịu tác động của biến đổi khí hậu…
Năm 2016 và 2018, Việt Nam đã chủ trì giới thiệu và được Hội đồng Nhân quyền thông qua hai nghị quyết về tác động của biến đổi khí hậu đối với quyền trẻ em và đối với quyền phụ nữ, đưa ra và tham gia nhiều sáng kiến như bảo vệ quyền lao động của người khuyết tật, bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động trên biển, tăng cường giáo dục, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái…
Một “dấu ấn hòa bình” nữa phải kể tới chính là sự kiện hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều Tiên lần thứ hai được tổ chức tại Hà Nội cuối tháng 2/2019, đúng dịp kỷ niệm 20 năm thủ đô của Việt Nam được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh là “Thành phố vì hòa bình.”
Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều Tiên lần thứ hai được tổ chức tại Hà Nội cuối tháng 2/2019. (Nguồn: Vietnam+)
Như Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov đã nhận định Việt Nam được lựa chọn để tổ chức cuộc gặp này vì “Việt Nam hiện đang tiến hành chính sách đối ngoại rất có trách nhiệm, là đất nước cởi mở cho hợp tác với tất cả các bên.” Nói rộng hơn, những đóng góp thiết thực của Việt Nam để thúc đẩy hòa bình trên toàn cầu là cơ sở để “đất nước hình chữ S” trở thành điểm hẹn cho nỗ lực thiết lập nền hòa bình trên bán đảo Triều Tiên.
Chuyên gia Carl Thayer, giáo sư danh dự-Học viện Quốc phòng Australia, nhận định Việt Nam đã chứng tỏ là một nhân tố tích cực đóng góp cho hòa bình và an ninh trong khu vực và thế giới.
Việt Nam đã chứng tỏ là một nhân tố tích cực đóng góp cho hòa bình và an ninh trong khu vực và thế giới
Có thể khẳng định Việt Nam đã thể hiện vị thế “một thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” thông qua những đóng góp ngày càng thiết thực vào các nỗ lực duy trì hòa bình, an ninh, ổn định quốc tế, thúc đẩy phát triển bền vững… và cao hơn hết, chính là những nỗ lực thúc đẩy và đảm bảo quyền con người trên tất cả các cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế.
Cùng với những thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao trong Khóa họp 41 Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc tháng 7/2019 vừa qua, khi Hội đồng Nhân quyền đồng thuận thông qua kết quả Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III, những “dấu ấn hòa bình” tại các diễn đàn đa phương quốc tế như Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc… là minh chứng cho nỗ lực của Việt Nam thúc đẩy, tôn trọng và thực hiện quyền con người./.
Cách Thành phố Hồ Chí Minh hơn 200km, ở chốn rừng núi, Bệnh viện Nhân Ái là nơi điều trị và sinh sống của hàng trăm bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS giai đoạn cuối. Với nhiều bệnh nhân, nơi đây đã trở thành ngôi nhà của mình. Ở đây, họ cảm nhận rõ giá trị của cuộc sống, nỗ lực vượt qua nỗi đau thể xác để thấy cuộc sống có ích hơn.
Đầu tháng 12/2019, men theo những con đường nhỏ giữa rừng cao su bạt ngàn của tỉnh Bình Phước, chúng tôi tìm đến Bệnh viện Nhân Ái trong cái nắng đổ lửa. Nằm chênh vênh trên sườn đồi giữa bạt ngàn cao su, cây cối, Bệnh viện Nhân Ái như một thế giới biệt lập với bên ngoài bởi nơi đây điều trị cho đối tượng bệnh nhân rất đặc biệt – bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.
“Khu nghỉ dưỡng” của bệnh nhân nhiễm AIDS
“Chào mừng các bạn đến với resort Nhân Ái – khu nghỉ dưỡng tuyệt vời dành cho những bệnh nhân HIV,” lời giới thiệu bông đùa, dí dỏm của bác sỹ Nguyễn Đức Long, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhân Ái đã phần nào xua cảm giác u ám trước khi chúng tôi đặt chân đến đây.
Với diện tích 170ha, Bệnh viện Nhân Ái nằm trên một ngọn đồi trải dài hơn 1,5km thuộc địa bàn xã Phú Văn, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Dưới chân đồi là hồ nước thơ mộng, thỉnh thoảng mang tới làn gió mát xua tan đi cái nóng bức của vùng đất Đông Nam Bộ những ngày cuối năm. Thật ngạc nhiên khi đây lại là nơi điều trị, chăm sóc cho những bệnh nhân nhiễm HIV giai đoạn cuối.
Bệnh viện Nhân Ái đang điều trị, chăm sóc toàn diện cho gần 500 bệnh nhân nhiễm HIV giai đoạn cuối
Ấn tượng đầu tiên đối với chúng tôi là hình ảnh khuôn viên xanh mát của bệnh viện, hàng trăm bệnh nhân tham gia sinh hoạt tập thể hết sức náo nhiệt. Người khỏe mạnh sẽ phụ nhân viên bệnh viện nhổ cỏ, chăm sóc cây kiểng, người yếu hơn tản bộ thư thái.
Dưới những căn chòi lá, một nhóm bệnh nhân ngồi ôm đàn hát vu vơ. Khung cảnh thanh bình yên ả lạ thường, có lẽ nếu không có những bộ đồng phục, ít ai nghĩ rằng đây lại là bệnh viện cũng những con người mang trong người “án tử.”
Giờ sinh hoạt văn nghệ của các bệnh nhân Bệnh viện Nhân Ái. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Được thành lập từ năm 2006, Bệnh viện Nhân Ái là bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối của Thành phồ Hồ Chí Minh đảm nhận nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu là chăm sóc và điều trị miễn phí cho bệnh nhân HIV/AIDS, cung cấp dịch vụ y tế, điều trị hiệu quả bằng thuốc kháng virus HIV và các bệnh nhiễm trùng cơ hội khác. Nơi đây đã từng chăm sóc, điều trị cho hàng ngàn bệnh nhân nhiễm HIV giai đoạn cuối trước khi họ trở về với cát bụi.
Theo bác sỹ Nguyễn Đức Long, Bệnh viện Nhân Ái hiện có 18 phòng/khoa, trong đó 7 khoa trực tiếp chăm sóc và điều trị bệnh nhân với quy mô 350 giường bệnh. Nơi đây đang điều trị, chăm sóc toàn diện cho gần 500 bệnh nhân nhiễm HIV giai đoạn cuối.
“Nói chăm sóc toàn diện bởi bệnh nhân ở đây rất đặc thù, đều không có người thân, tất cả phó mặc cho nhân viên y tế từ tắm rửa, thay quần áo, ăn cơm, ăn cháo… đến những chuyện tâm tình buồn vui trong cuộc sống họ đều tìm đến nhân viên y tế. Lâu dần, họ coi nơi đây là nhà, mái nhà cuối cùng của cuộc đời họ,” bác sỹ Long chia sẻ.
Khi bệnh viện là nhà, bác sỹ là người thân
“Đợt này Thảo tăng được 2kg, ăn ngon hơn, ngủ cũng ngon hơn, cô Tâm thấy Thảo giỏi không? – Dạ, chị giỏi quá, phải ăn nhiều mới khỏe nha chị. Cuối tuần này, Thảo đi mua quần áo mới, cô Tâm đi với Thảo không? – Đi chứ, Tâm đi lựa đồ giúp chị Thảo nhen.” Những lời tâm tình, thủ thỉ vô tình nghe được khi đi ngang qua một căn chòi nghỉ chân trong khuôn viên Khoa Nội 3 khiến chúng tôi ngạc nhiên. Vừa ngồi tết tóc cho bệnh nhân Lâm Thị Thu Thảo (50 tuổi), điều dưỡng Hoàng Thị Thanh Tâm vừa trò chuyện tâm tình như hai người bạn.
Cảnh tượng này có lẽ “hiếm có khó tìm” ở bất cứ cơ sở y tế nào nhưng lại trở nên quen thuộc tại Bệnh viện Nhân Ái. Dù chuyên điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV nhưng ở đây dường như không tồn tại khoảng cách giữa người bệnh và nhân viên y tế mà nhường chỗ cho tình bạn, tình thân.
“Vui nhất là có gần 300 nhân viên y tế nhưng đi đến đâu bệnh nhân cũng đều nhớ rõ tên từng người. Mỗi lần thấy mình đi ngang qua, bệnh nhân lại hỏi: Cô Tâm ăn cơm chưa? Cô Tâm hôm nay trông vui thế? Chỉ thế thôi mà mình cảm thấy rất vui và ấm áp,” điều dưỡng Hoàng Thị Thanh Tâm chia sẻ.
Bác sỹ Bệnh viện Nhân ái thăm khám bệnh nhân AIDS. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Ở ngoài khuôn viên là vậy còn trong phòng bệnh, một điều dưỡng đang thay tã, làm vệ sinh cho bệnh nhân Tạ Trung Ngọc phải nằm một chỗ vì quá yếu. Rơm rớm nước mắt xúc động, anh Tạ Trung Ngọc kể anh được chuyển đến Bệnh viện Nhân Ái khi đã bước vào giai đoạn nặng, phải nằm một chỗ, vì thế mọi sinh hoạt cá nhân đều phải nhờ tới điều dưỡng.
“Tôi có gia đình của mình nhưng chưa từng được chăm sóc, làm vệ sinh chu đáo như vậy. Tôi bị bệnh là họ bỏ tôi luôn, vì thế ơn này của các cô tôi mang đến suốt đời,” anh Ngọc chia sẻ.
“Gia đình Nhân Ái” là cái tên trìu mến mà bệnh nhân đặt cho bệnh viện này. Bởi lẽ ở đây, họ được các nhân viên y tế chăm sóc đặc biệt từ miếng ăn đến giấc ngủ, chu đáo hơn cả với những người ruột thịt. Nơi đây vẫn luôn dang rộng vòng tay chào đón những con người bị xã hội, người thân chối bỏ, kỳ thị. Ở đây, họ gặp những người bạn đồng cảnh ngộ, lâu dần trở thành người thân, cùng dìu nhau vượt qua bóng đêm tăm tối. Đây là nhà, là nơi sưởi ấm tâm hồn đầy mặc cảm, chốn bình yên nhất trong cuộc đời của những con người từng một thời lầm lỡ.
Dù hằng ngày phải đối diện với những cái chết được báo trước nhưng Tết đến, ở Nhân Ái vẫn đủ đầy
Ở đây, ngày Tết trở thành ngày sum họp đặc biệt của đại gia đình Nhân Ái. Dù hằng ngày phải đối diện với những cái chết được báo trước nhưng Tết đến, ở Nhân Ái vẫn đủ đầy với việc gói bánh chưng, bày mâm ngũ quả, chưng cây đào, cây mai và cùng quây quần bên nhau đón đợi thời khắc Năm mới đến.
Bác sỹ Nguyễn Đức Long chia sẻ: “Tết năm nào bệnh viện cũng tổ chức chương trình đón Xuân cho cả nhân viên y tế và bệnh nhân. Chúng tôi ở bên họ trong khoảnh khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, dành cho họ những lời chúc đầu năm chân thành nhất bởi họ cũng như bao người bình thường khác, Tết là thời khắc thiêng liêng và Tết nghĩa là vẫn còn hy vọng.”
Bác sỹ Lê Thanh Lâm, Khoa Nội 3 thăm khám cho bệnh nhân HIV/AIDS. (Ảnh: Xuân Khu-TTXVN)
Hồi sinh khát vọng sống
Ở Bệnh viện Nhân Ái, có những người tưởng chừng như đã về với cát bụi nhưng lại hồi sinh một cách kỳ lạ. Có những cánh cửa cuộc đời tưởng như đã bị đóng sập lại từ từ được mở ra như một phép màu. Những người tạo nên phép màu ấy không ai khác chính là các y, bác sỹ vẫn ngày đêm bám trụ ở Nhân Ái.
Ít ai biết có bác sỹ đã gắn bó với nơi đây kể từ khi bệnh viện được thành lập bởi họ đã trót nặng lòng với những mảnh đời đang ngấp nghé ngưỡng cửa “tử thần.”
“Mẹ hiền” ở Nhân Ái
Hơn 12 năm gắn bó với Bệnh viện Nhân Ái, bác sỹ Lê Thanh Lâm đã chứng kiến biết bao bệnh nhân đến với mình rồi ra đi và đó trở thành nỗi ám ảnh của anh: “Nỗi đau lớn nhất của một bác sỹ là thấy bệnh nhân ra đi mà mình không thể làm gì được.” Tuy vậy, cũng như nhiều bác sỹ tại đây, anh không nỡ “dứt áo ra đi” vì trót nặng lòng với những con người đang ở bờ vực của sự sống và cái chết.
“Lực lượng bác sỹ ở đây vốn đã mỏng, nếu mình đi, anh em lại phải gồng gánh thêm, lấy ai chăm sóc cho bệnh nhân, thế là quyết định ở lại dù cũng rất nhiều lần đắn đo,” bác sỹ Lâm cho hay.
Bắt đầu làm việc tại nơi chăm sóc và điều trị miễn phí cho bệnh nhân HIV/AIDS vào năm 2008, từ đó chưa có cái Tết nào điều dưỡng Bùi Văn Tiến được về quê với gia đình
Tương tự, bắt đầu làm việc tại nơi chăm sóc và điều trị miễn phí cho bệnh nhân HIV/AIDS vào năm 2008, từ đó chưa có cái Tết nào điều dưỡng Bùi Văn Tiến được về quê với gia đình. Thiệt thòi như vậy nhưng anh chưa một lần có ý định chuyển công tác. May mắn, vợ anh cũng là một điều dưỡng công tác trong bệnh viện nên rất thông cảm với trách nhiệm của chồng.
“Không chỉ bệnh nhân bị kỳ thị mà ngay cả chúng tôi cũng bị nhiều người dân kỳ thị vì họ lo sợ chúng tôi tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân và bị phơi nhiễm, mang mầm bệnh lây lan ra bên ngoài,” điều dưỡng Hoàng Thị Thanh Tâm chia sẻ sau 14 năm công tác tại Bệnh viện Nhân Ái.
Tự nhận mình may mắn khi chưa phải điều trị chống phơi nhiễm lần nào nhưng điều dưỡng Hoàng Thị Thanh Tâm đã chứng kiến nhiều đồng nghiệp của mình phải uống thuốc ARV.
Tình thân như người nhà giữa Điều dưỡng viên Hoàng Thị Thanh Tâm và bệnh nhân Lâm Thị Thu Thảo. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Theo lời chị Tâm, chuyện nhân viên y tế nơi đây bị phơi nhiễm vì tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch của bệnh nhân hay bị bệnh nhân cào cấu… xảy ra như cơm bữa. Mới đây nhất, hai nam điều dưỡng là Nguyễn Duy Khang ở Khoa Nội 1 và Bùi Văn Phi Khoa Nội 3 bị phơi nhiễm HIV sau nỗ lực ngăn cản bệnh nhân tự tử. “Trong những lúc cấp bách, chúng mình không có suy nghĩ gì khác mà chỉ cố gắng ngăn không cho bệnh nhân tự tìm đến cái chết, không ngờ bị bệnh nhân lao vào chống đối,” anh Khang cho hay.
Dù điều kiện làm việc khó khăn, thiếu thốn, cách biệt với thế giới bên ngoài và tiềm ẩn nguy cơ phơi nhiễm căn bệnh thế kỷ nhưng theo Phó Giám đốc Bệnh viện Nhân Ái Nguyễn Đức Long, những năm qua, rất ít nhân viên y tế xin chuyển công tác.
Ấn tượng hơn cả, theo lời của bác sỹ Nguyễn Đức Long, trong số 290 nhân viên y tế đang làm việc ở Bệnh viện Nhân Ái có đến gần 150 người kết đôi thành vợ chồng. Môi trường làm việc biệt lập, sự thấu hiểu và đồng cảm lẫn nhau chính là “ông tơ bà nguyệt” se những mối duyên lành ở Nhân Ái.
“Chúng tôi xây dựng một khu nhà công vụ cho các nhân viên khi họ kết hôn, mở nhà giữ trẻ dành riêng cho con em họ để họ yên tâm công tác, chuyên tâm phục vụ bệnh nhân,” bác sỹ Nguyễn Đức Long chia sẻ.
Gieo mầm hy vọng sống
Được chuyển đến Bệnh viện Nhân Ái khi đã bị liệt hoàn toàn từ ngực trở xuống, trong 8 năm qua, mọi sinh hoạt của bệnh nhân Nguyễn Hoàng Phi Công (sinh năm 1983) phải dựa hoàn vào lực lượng điều dưỡng và các xơ của bệnh viện.
“Khi bệnh nhân được chuyển đến đây, toàn bộ phần mông đã bị lở loét, hoại tử, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc nhưng chúng tôi không được phép bỏ bê bệnh nhân bởi lương tâm không cho phép,” chị Nguyễn Thị Đức Giang, điều dưỡng Khoa Nội 2 nhớ lại. Nhờ thế, sức khỏe của anh Công ngày càng được cải thiện và giờ đây có thể ôm đàn, sáng tác nên những ca khúc vui tươi. Cuộc sống nơi buồng bệnh nhờ vậy cũng bớt tẻ nhạt và có màu sắc hơn.
Sự chăm sóc của các y, bác sỹ đã mang lại niềm lạc quan và hy vọng cho người bệnh. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Trường hợp khác được y bác sỹ Bệnh viện Nhân Ái đưa về từ “cửa tử,” là anh Nguyễn Văn Trung, một trong những bệnh nhân kỳ cựu, có mặt từ khi bệnh viện mới thành lập đến nay.
Bác sỹ Lê Thanh Lâm nhớ lại, thời điểm tiếp nhận, bệnh nhân Trung trong tình trạng suy kiệt nghiêm trọng, hệ miễn dịch hầu như bị phá vỡ hoàn toàn. Toàn thân bệnh nhân bị lở loét, chảy máu không ngừng. Ngày đó, anh cùng các y bác sỹ đã dốc toàn lực để cứu bệnh nhân. Nhờ sự chăm sóc tận tình, cơ địa đáp ứng thuốc tốt, bệnh nhân hồi phục dần và trở nên khỏe mạnh như một kỳ tích.
“Trong nỗi đau tột cùng khi đứng giữa sự sống và cái chết, trong những cơn vật vã, tôi chỉ nhìn thấy những chiếc bóng áo trắng thấp thoáng. Họ đã ở bên tôi và kéo tôi từ cõi chết trở về,” anh Nguyễn Văn Trung xúc động nhớ về thời khắc ngấp nghé ngưỡng cửa tử thần.
Sau này, dù nhiều lần đủ điều kiện được về với cộng đồng nhưng anh Trung vẫn nhất quyết xin ở lại, tham gia vào đội tắm rửa, phụ các bác sỹ, nhân viên của bệnh viện khâm liệm, tổ chức tang lễ cho bệnh nhân khác khi họ trở về với cát bụi như một cách trả nghĩa với đời, với bệnh viện.
Cũng như anh Trung, nhiều bệnh nhân đã đến Nhân Ái trong tình trạng kiệt quệ nhưng rồi lại khỏe mạnh, trở về với gia đình, cộng đồng như một phép màu.
Nhiều bệnh nhân đã đến Nhân Ái trong tình trạng kiệt quệ nhưng rồi lại khỏe mạnh, trở về với gia đình, cộng đồng như một phép màu
Bác sỹ Nguyễn Đức Long chia sẻ: “Hàng trăm bệnh nhân đến với chúng tôi rồi ra đi mãi mãi nhưng cũng có hàng trăm con người trở với đời thường. Thật hạnh phúc khi hồi sinh được những “ngọn đèn leo lét trước gió.” Hơn hết là niềm tin vào cuộc đời cũng theo đó “đâm chồi nảy lộc.”
“Trong lúc cùng cực nhất của cuộc đời, tưởng như thần chết đã đưa tôi đến với thế giới bên kia nhưng các bác sỹ đã níu tôi lại, trao cho tôi hy vọng sống mới. Đời có thể chối bỏ chúng tôi, gia đình có thể chối bỏ chúng tôi nhưng những ánh Mặt Trời Nhân Ái đã sưởi ấm trái tim chúng tôi. Cảm ơn vì đã sinh ra chúng tôi một lần nữa.” Đây là một đoạn trong bức tâm thư xúc động mà một bệnh nhân gửi lại trước khi chia tay bệnh viện trở về với cộng đồng. Kỳ diệu thay, ở chốn “thâm sơn cùng cốc,” cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài lại có những hạt mầm hy vọng được gieo nên bởi trái tim Nhân Ái.
Tình người vì thế vẫn mãi đong đầy nơi đây như chính cái tên và sứ mệnh được gửi trao: Bệnh viện của tình người./.
“Wind raises the flag up, making it flutter above the platform/Wind comes with overflowing new sources of life (…) The thirty six streets turn rivers flooded with red flags/Glittering yellow stars look like great flowers at the five gates…”
These are the lyrics of the song “Ba Dinh nang” (Sunshine at Ba Dinh Square) by musician Bui Cong Ky.
Whenever listening to the song, Vietnamese people both at home and abroad remember the 1945 revolutionary autumn. The nation has taken a more than 70-year journey with huge losses and plight, but lots of glories and pride.
Youth, blood, bones and happiness of generations were traded for the present peace. Along with the national pride and desire for peace, National Day reminds us to seek ways to change the nation.
Fulcrum for next journey
Photographer Hua Kiem, who used to be a teacher of culture of the General Department of Politics of the Vietnam People’s Army, was sent to a course training journalists of the Vietnamese News Agency to work in the southern battlefield in 1965. He then became a key member of the group of military photographers based at the Vietnam News Agency.
It is hard to describe my feelings when listening to the song “Ba Dinh nang” and the Declaration of Independence that touch my hearts and awoke my combat ardour. The song is the spiritual fulcrum helping us stand firm in the fierce war.
During the wartime, he worked not only as a war journalist but also a soldier. He joined battlefields from the North to the South, including “hot spots” like Vinh Linh and Road 20 connecting the east and the west of the Truong Son mountain range. Kiem returned home from the war with both pride and pains.
Journalist Hua Kiem of the Vietnam News Agency meets Saigonese to cover the victory of the 1975 Ho Chi Minh Campaign. (Photo: VNA)
“Whenever I went to the battlefields, I did not think about “patriotism” or “national pride,” but I was resolved to complete my tasks and take the best photos. It was my responsibility to tell people in the rear and all over the world about the undaunted fighting spirit of Vietnamese soldiers as well as the justice of Vietnam’s resistance war,” Kiem said.
People were injured and killed every day due to bombs and mines. Such events as death anniversaries, Tet and even National Day were not observed during the war. Sadness and happiness came and went like whirlwinds, he remembered.
“During the war, all must exert unusual efforts. However, it was hard to describe our feelings whenever listening to “Ba Dinh nang” and the Declaration of Independence read by President Ho Chi Minh on radio on the National Day – both being choked with emotion and boiling with fighting spirit. It was a spiritual fulcrum for us to stand firm in the fierce war whose developments were unforeseeable,” he said.
President Ho Chi Minh reads the Declaration of Independence announcing the birth of the Democratic Republic of Vietnam on September 2, 1945. (Photo: VNA)
“Wind raises the flag up, making it flutter above the platform/Wind comes with overflowing new sources of life,” the former war journalist sang emotionally.
“Ba Dinh nang” is one of the very few songs capturing the Ba Dinh Square on the historic day of September 2, 1945. It includes President Ho Chi Minh’s saying before he read the Declaration of Independence: “Do you hear me distinctly, fellow countrymen?”
With both fast and slow rhythms, the song fully demonstrates the strong emotions ahead of the country’s sacred moments, while picturing the war, peace, happiness and plight.
The image of Uncle Ho in faded khaki clothes and in the forest of flowers and flags, along with the song’s melody, has touched the hearts of millions of Vietnamese.
Unforgettable experiences
74 years have passed but such emotions remain intact in the hearts of those who were lucky to accompany the nation on the first National Day festivals. Flipping through stained black-and-white photos, People’s Artist Chu Thuy Quynh could not keep her hands from shaking.
She has come a long way and experienced many changes of life and art. The fresh and joyful feelings of the first times when she immersed in the atmosphere of the celebration of National Day has gradually passed over time but turned into concerns.
People’s Artist Chu Thuy Quynh’s feelings of National Day are no longer excitements but concerns. (Photo: VietnamPlus)
“When I was a little girl, I felt very nervous and excited ahead of National Day. Adults talked about the past, cleaned up houses and shared their wishes that may come true when the country is peaceful…Then, on September 2, my family often took to the streets to join the festive atmosphere. It seems that everybody chose the best clothes to wear on the day,” she said.
That day, bright smiles always stayed on the faces of youths. But there were old mothers with sad eyes as their sons were still combating on the front. It seems that National Day brought people closer together. Strangers smiled and waved to each other,” the artist reminisced.
“For me, each celebration of National Day is a reminder of citizen responsibility and professional attitude.”
Later, Quynh became a professional dancer and performed for soldiers and people on National Day.
“The stage was sometimes splendid like the one at the Opera House, or yards of communal houses, flower gardens and familiar pavements…Even so, in any place, I still felt happy when receiving public appraisals. Children gave me wild flowers they picked along roads,” she said.
Over time, along with national development, cultural and artistic life has also changed. Quynh’s biggest concern is how to preserve national identities amidst international integration, with waves of imported culture. Therefore, the choreographer has paid attention to optimising folk factors and historical stories.
Quynh, who is also Chairwoman of the Vietnamese Dancers’ Association, said the art sector has always considered historical stories one of leading important and key topics.
On August 19, 1945, following a meeting at the Opera House Square, Hanoians gained the Tonkin Palace – headquarters of the French-backed administration in the North. The victory of the August Revolution opened up a new era in Vietnam, with Vietnamese people owning the country and mastering their own destiny.(Photo: VNA)
“The nation’s history of revolutionary struggle has created many great works. Many of them were performed right in battlefields without stages. An example is the dance “Gap go ben mam phao” (Meeting at the gun platform) was composed in 1965 in the battlefield of military zone 4, when we heard stories about the three forces of gunners, militia girls and naval soldiers) who together shot down enemies’ planes,” Quynh said.
Silent for few minutes, she said currently, the knowledge and understanding about the history and social affairs of some choreographers and artists are limited. Therefore, they only collect relevant documents when they begin to create history-themed works.
Quynh pointed out the fact that these artists have no time to study the history and some works have yet to fully reflect historical events and figures.
Her shoulders suddenly shook and her voice choked when saying…/.
Over the past decades, Vietnam has been an active and responsible member which has a significant influence on ASEAN’s structure, contributing to maintaining unity, peace and security in the region, and the building of a people-centered ASEAN community.
Since it became a member of ASEAN on July 28, 1995, Vietnam has made important contributions to the development of the bloc.
The country has coordinated with other member nations to build important orientations and policies for the bloc, including the ASEAN Vision 2020 and the ASEAN Vision 2025, the Hanoi Plan of Action, the Declaration of ASEAN Concord II on the formation of the ASEAN Community, the ASEAN Charter, and the 2009-2015 Roadmap for an ASEAN Community.
Vietnam’s increasingly important role in ASEAN serves as catalysis to raise the country’s values and strengthen its ties with ASEAN’s partners.
Vietnam affirms its role in ASEAN
The 10-member Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) was established on August 8, 1967. It has become the third largest market in Asia with 650 million people, accounting for 8.59 percent of the world’s population. Per capita GDP stands at 4,305 USD and is expected to double by 2030, turning ASEAN into the seventh economic community in the world with total GDP of 2.766 trillion USD.
Meanwhile, the ASEAN Community officially came into being on December 31, 2015 with a view to becoming a community that is “politically cohesive, economically integrated and socially responsible, oriented towards the people and centres on the people” on the basis of the ASEAN Charter and the ASEAN Community Vision 2025.
Minister of Industry and Trade Tran Tuan Anh said over the past 50 years of co-operation and development, besides security, political, cultural and social cooperation, ASEAN has been focusing on economic co-operation through the establishment of the ASEAN Economic Community. This economic co-operation is considered one of the most important things to support the development of each ASEAN member, he added.
Garment workers master new technology (Photo: Vietnam+)
Trade facilitation is of the bloc’s focus. Accordingly, ASEAN member states have carried out such activities as one-stop-shop custom procedure, mutual recognition arrangements (MRAs) on electricity, rubber, processed food, pharmaceuticals, etc.
Statistics by the Ministry of Industry and Trade reveals when Vietnam joined AFTA in 1996, the country’s two-way trade turnover with other countries in the bloc was only some 5.9 billion USD. In 2018, this number increased by more than 9.5 times and reached about 56.3 billion USD.
In the first six months of 2019, Vietnam’s exports to ASEAN reached 13.067 billion USD, up 6.7 percent year-on-year.
Notably, the introduction of the AEC marked a new integration step of ASEAN economies with a goal of building a competitive, dynamic and innovative ASEAN.
Fruit and vegetables exports surpass those of oil and rice (Photo: VNA)
Tran Thanh Hai, deputy head of the Import-Export Department under the Ministry of Industry and Trade, said that entering the ASEAN market, many Vietnamese products have had positive changes and become more competitive.
For example, Vietnam used to acquire shrimp cultivation methods from other countries, such as Thailand in the past. However, it has made it to the list of biggest shrimp exporters in the world.
On the other hand, having joined the AEC, enterprises now pay more attention to product quality, including technical standards.
Modern technology applied in production (Photo: Vietnam+)
Even when Vietnam enters a new era of integration with global-scale free trade agreements already put on the table for negotiation, the role of ASEAN Economic Community is still significant. AEC lays a firm foundation for Vietnam to continue its journey of global integration, insiders said.
Even when Vietnam enters a new era of integration with global-scale free trade agreements already put on the table for negotiation, the role of ASEAN Economic Community is still significant. AEC lays a firm foundation for Vietnam to continue its journey of global integration, insiders said.
Vietnam should be ready for upcoming opportunities
The implementation of the ASEAN Economic Community (AEC) Blueprint 2015 has been substantively achieved in, among others, eliminating tariffs and facilitating trade; advancing the services trade liberalisation agenda; liberalising and facilitating investment; streamlining and harmonising capital market regulatory frameworks and platforms; facilitating skilled labour mobility; promoting the development of regional frameworks in competition policy, consumer protection and intellectual property rights; promoting connectivity; narrowing the development gap; and strengthening ASEAN’s relationship with its external parties.
Under the Blueprint, Vietnamese enterprises’ export turnover of key productsis also expected toincrease;exporting markets are expanded; andeasier access to materials, commodities and partners from other ASEAN member states is forecast.
Selecting farm produce (Photo: Vietnam+)
According to Nguyen Tue Anh, deputy director of Central Institute for Economic Management, in order to make full use of potentials brought by the AEC, Vietnamese firms are advised to change their mindset toward considering competition a growth momentum.
She also suggested them being more proactive in updating information on tax preferences, rules of origin, etc. given that Vietnam has inked numerous free trade deals with foreign partners. Moreover, the firms are advised to invest properly in production technology, management protocol and quality of human resource, she added.
Vietnamese firms are advised to change their mindset toward considering competition a growth momentum.
It could be seen that Vietnam’s economy has been significantly improved since joining ASEAN over 20 years ago. Still, insiders suggested domestic firms to improve their competitive edge and equip themselves with knowledge on rights and obligations of Vietnam when joining FTAs./.
Prime Minister Nguyen Xuan Phuc attends 34thASEAN Summit (Photo: VNA)
El 30 de junio marcó un hito importante en las relaciones entre Vietnam y la Unión Europea (UE), así como en el proceso de integración global de Hanoi, con la firma del Tratado de Libre Comercio (EVFTA) y el Acuerdo de Protección Inversionista (EVIPA) entre ambas partes.
Para presenciar la rúbrica de esos pactos históricos, el primer ministro del país indochino, Nguyen Xuan Phuc, voló desde la ciudad de Osaka a Vietnam, y luego regresó inmediatamente a Tokio para continuar su visita oficial a Japón.
Especialmente, durante la firma, el jefe de Gobierno vietnamita describió el EVFTA como una “autopista” que conectará el país indochino con el llamado “viejo continente”.
En medio de los desafíos que enfrenta el comercio global, la firma del EVFTA posee un significado especial y refleja una visión estratégica, afirmó, y destacó que la gran complementariedad entre las economías beneficiará a ambas partes.
El camino hacia el EVFTA
En junio de 2012, Vietnam y la UE anunciaron el inicio de las negociaciones del Tratado de Libre Comercial bilateral, las cuales concluyeron en diciembre de 2015, dando paso a la revisión jurídica.
En junio de 2017, ambas partes terminaron la evaluación en términos técnicos, y un año después acordaron dividir el pacto original en dos documentos, el EVFTA y el EVIPA, a la vez que anunciaron la conclusión oficial de la revisión jurídica del tratado comercial y alcanzaron el consenso sobre los contenidos del acuerdo inversionista.
Las dos partes tuvieron que esperar cuatro meses para recibir la aprobación de la Comisión Europea, y el 25 de junio pasado, el Parlamento Europeo dio luz verde a la firma de los dos pactos.
La firma del Tratado de Libre Comercio entre Vietnam y la Unión Europea (Foto: VNA)
EVFTA, acuerdo con compromisos más altos para Vietnam
Al eliminar las barreras arancelarias a casi todas las mercancías de Vietnam, el EVFTA impulsará las exportaciones principales del país como confecciones textiles, calzado, madera, así como de los productos agrícolas y acuáticos.
De acuerdo con expertos, los compromisos alcanzados en ese tratado son los más altos en comparación con los acuerdos comerciales firmados por Hanoi. Hay que notar, que actualmente solo el 42 por ciento del valor de las exportaciones de Vietnam a la UE goza de impuesto cero, garantizado por el Sistema Generalizado de Preferencias.
Un estudio realizado por el Ministerio de Planificación e Inversión de Vietnam, indica que el EVFTA posibilitará un aumento del 20 por ciento de las exportaciones del país al bloque en 2020, un 42,7 por ciento en 2025, y 44,37 por ciento en 2030.
El tratado también añadirá entre 2,18 y 3,25 por ciento al crecimiento económico de Vietnam en el período 2019-2023, así como entre 4,57 y 5,30 por ciento en el plazo 2024-2028, y del 7,07 a 7,72 por ciento desde 2029 hasta 2033.
Además, los compromisos referidos a la inversión, los servicios y la contratación pública, así como a la apertura del mercado y los estándares técnicos en determinados sectores ampliarán el acceso de los más de 96 millones de consumidores vietnamitas a los productos y servicios de alta calidad de la UE, en esferas como farmacia, salud, construcción de infraestructuras y transporte público.
Al mismo tiempo, las regulaciones sobre la administración estatal contribuirán a garantizar un entorno favorable y transparente para las inversores de ambas partes.
“Acuerdo histórico”
De acuerdo con Chu Hoang Long, experto de la Escuela de Políticas Públicas Crawford, de la Universidad Nacional de Australia, las firmas del EVFTA y del EVIPA patentizan la creciente posición de Vietnam en la economía global.
El EVFTA es el acuerdo más integral que ha rubricado la UE con un país de ingreso mediano, el cual estableció un nuevo estándar para las transacciones entre el bloque y las economías emergentes, opinó.
La firma del EVFTA colocó a Vietnam en pie de igualdad con grandes socios de la Unión Europea en Asia, como Japón y Corea del Sur. El país indochino es el segundo miembro de la ASEAN en establecer un Tratado de Libre Comercio con el bloque, después de Singapur.
El economista afirmó que la Unión Europea considera el EVFTA como base crucial para avanzar hacia un acuerdo común con toda la ASEAN.
Otro significado importante de ese pacto es que evidencia la creciente expectativa de la UE sobre Vietnam, recalcó, y explicó que al firmar el EVFTA, Hanoi se compromete a cumplir los altos estándares globales en materia de comercio, empleo, medio ambiente y desarrollo sostenible.
El cumplimiento de esos compromisos ayudará a la nación indochina a crear su imagen como un país dinámico, que respeta los principios y valores comunes, especialmente en momentos en que la guerra comercial entre Estados Unidos y China afecta directamente los factores más básicos que crean las mercancías y servicios de las dos mayores economías mundiales, enfatizó.
El vicecanciller vietnamita Bui Thanh Son (VNA)
Mientras tanto, el vicecanciller vietnamita Bui Thanh Son subrayó que el año 2019, marcado por la entrada en vigor del Acuerdo Integral y Progresivo de Asociación Transpacífico (CPTPP) y la firma del EVFTA, inició una nueva etapa de la integración económica global de Vietnam.
Al integrarse de manera cada más amplia y profunda a la comunidad internacional, Vietnam ha llegado a ser una de las economías más abiertas en el Sudeste de Asia, y forma parte de las conexiones regionales e interregionales importantes, aseguró.
Con 16 acuerdos comerciales firmados o en fase de negociación y ratificación, el país se convirtió en el cruce de una red de libre comercio que representa el 59 por ciento de la población mundial, el 61 por ciento del Producto Interno Bruto y el 68 por ciento del comercio global, fortaleciendo así sus intereses compartidos con la mayoría de los centros económicos líderes, precisó.
A partir de 2019, Hanoi cumple los compromisos económicos clave, entre ellos los establecidos en los Tratados de Libre Comercio de nueva generación, recalcó.
La incorporación a pactos como el CPTPP y el EVFTA patentiza el firme compromiso de Vietnam con la renovación y la integración global, a la vez que estimula al país a acelerar el perfeccionamiento del status de economía de mercado e impulsa un sistema comercial multilateral abierto y basado en las leyes, aseveró.
Con 16 acuerdos comerciales firmados o en fase de negociación y ratificación, Vietnam se convirtió en el cruce de una red de libre comercio que representa el 59 por ciento de la población mundial, el 61 por ciento del Producto Interno Bruto y el 68 por ciento del comercio global.
¡Ábrete, sésamo!
El EVFTA ofrecerá grandes oportunidades, a la vez que planteará nuevos desafíos para los hombres de negocios del país indochino.
Para aprovechar los beneficios y enfrentar de forma eficiente los desafíos, las empresas vietnamitas necesitarán una “contraseña” para poder acceder al “tesoro” guardado en el tratado.
Según Vu Tien Loc, presidente de la Cámara de Comercio e Industria de Vietnam (VCCI), las presiones que levanta el EVFTA ayudarán a Vietnam a perfeccionar el marco legal, a la vez que obligarán a la comunidad empresarial nacional, en su mayoría pequeñas y medianas compañías, a tomar la iniciativa para renovarse.
Una vez en vigor el EVFTA, los exportadores nacionales podrán impulsar las ventas al bloque comunitario, y al mismo tiempo, los productos europeos entrarán en Vietnam con mayor facilidad, intensificando así la competencia en el mercado del país sudesteasiático, con 97 millones de consumidores, explicó.
Sin embargo, Tien Loc evaluó que los desafíos no serán “tan graves”, y las empresas vietnamitas son capaces de cambiar y adaptarse al entorno comercial internacional.
Según el presidente de la VCCI, las regulaciones exigentes sobre el origen de mercancías constituirán los retos principales para las firmas nacionales, dada la dependencia de varias industrias manufactureras de las materias primas importadas de China y países sudesteasiáticos.
En ese sentido, recomendó que los fabricantes incrementen las importaciones de la Unión Europea, para poder aprovechar las preferencias garantizadas por el EVFTA.
Por otro lado, al valorar las estrictas normas de importación del bloque, sobre todo las referidas a la higiene y la epidemiología, afirmó que en la primera fase de la aplicación del Tratado, las empresas vietnamitas necesitarán el apoyo y la cooperación de sus similares europeas para actualizar sus estándares de producción, con el fin de adaptarse a las condiciones de importación de los países miembros de la agrupación.
No obstante, el perfeccionamiento de la producción planteará otro problema, que es el aumento de los costos, señaló.
En tal sentido, propuso que el Gobierno adopte nuevas políticas para apoyar a las empresas a renovar la tecnología, pues “para una empresa, será difícil superar ese desafío por sí sola,” aseveró.
Lo más importante es que las compañías estudien minuciosamente los compromisos establecidos en el EVFTA para reestructurar sus productos, mercados y socios, aprovechando así las oportunidades brindadas por el pacto, enfatizó.
Opinó Tien Loc que la vigorosa integración global de Vietnam, a través de la firma y aplicación de una serie de tratados integrales y de alta calidad, significa que las empresas han sido “arrojadas al océano”.
“No tendrán otra salida que actualizarse para mejorarse a sí mismas.”
Durante una rueda de prensa efectuada tras la firma del EVFTA, el ministro de Industria y Comercio de Vietnam, Tran Tuan Anh, precisó que ese acuerdo deberá ser ratificado por los Parlamentos de ambas partes, y por eso aún “queda un camino” para su entrada en vigor.
No obstante, de ahora en adelante las empresas vietnamitas necesitan equiparse con conocimientos y tecnologías para superar los desafíos y maximizar los beneficios brindados por el EVFTA./.
Durante la primera reunión del Gobierno vietnamita el 3 de septiembre de 1945, el Presidente Ho Chi Minh mencionó seis asuntos urgentes, de los cuales el alivio del hambre figuró entre las misiones más importantes. Enfatizó muchas veces la tarea del Estado de garantizar la vida de los pobladores, incluidas comidas, ropas, viviendas y educación.
En sus palabras, destacó los logros del país en la lucha por la libertad y la independencia, a la vez que concedió importancia a la garantía de que todos los habitantes tienen suficientes alimentos y ropas.
Como parte de los esfuerzos por cumplir las enseñanzas de Ho Chi Minh, el Partido Comunista (PCV) y el Estado de Vietnam consideran la erradicación de la pobreza como una meta y un requisito para el desarrollo sostenible. Es decir, la reducción de la pobreza se convierte en una política importante y un programa nacional, el cual refleja la hermosa tradición de la nación durante los últimos 74 años.
Logros impresionantes
En las recientes tres décadas, las labores de la erradicación del hambre y la disminución de la pobreza han registrado avances impresionantes en el proceso del desarrollo económico de Vietnam. Junto con los logros económicos, una serie de las políticas de reducción de pobreza se lanzan sincrónicamente en todas las localidades gracias a la asistencia financiera del Gobierno, la comunidad y las organizaciones sociales internacionales.
La determinación de salir de la pobreza no es solo la voluntad de cada militancia y cada gobierno local, sino que también se convierte en el pensamiento de cada hogar pobre. La tasa de pobreza per cápita (basada en el gasto de ingreso) se redujo drásticamente del 57 por ciento en 1990 al 13,5 por ciento en 2014.
En las recientes tres décadas, las labores de la erradicación del hambre y la disminución de la pobreza han registrado avances impresionantes en el proceso del desarrollo económico de Vietnam (Fuente: VNA)
En 2006, Vietnam anunció el cumplimiento de los Objetivos de Desarrollo del Milenio para la eliminación de la pobreza extrema y el hambre, alcanzando la meta 10 años antes de lo previsto (2015).
En cuanto a los avances del país indochino en la reducción de la pobreza, Ngo Truong Thi, jefe de la Oficina al respecto, del Ministerio de Trabajo, Inválidos de Guerra y Asuntos Sociales, informó que a pesar de enfrentar durante los últimos tres años varios desafíos y dificultades, en términos de economía, sociedad y desastres naturales, las labores de disminución de pobreza siguen manteniéndose de manera sostenible, gracias al liderazgo del PCV, la atención de la Asamblea Nacional y el Gobierno, así como los esfuerzos de toda la sociedad.
En 2006, Vietnam anunció el cumplimiento de los Objetivos de Desarrollo del Milenio para la eliminación de la pobreza extrema y el hambre, alcanzando la meta 10 años antes de lo previsto (2015).
De 2016 a 2017, la cifra de pobreza cayó 1,8 por ciento, tasa más alta que la meta fijada por la Asamblea Nacional (de uno a 1,5 por ciento). El año pasado Vietnam logró controlar el ritmo de reducción de pobreza, lo que contribuyó al desarrollo sostenible nacional, reveló Truong Thi.
También calificó de importante el programa de reducción de la pobreza y del bienestar social en disminución de la brecha entre ricos y pobres, y de la presión sobre el objetivo de desarrollo sostenible del país.
De 2016 a 2017, la cifra de pobreza cayó 1,8 por ciento, tasa más alta que la meta fijada por la Asamblea Nacional (de uno a 1,5 por ciento) (Fuente: VNA)
De acuerdo con Vo Van Bay, jefe de la Oficina Coordinador del Programa 135, del Comité de Asuntos Étnico, el país alcanzó durante los recientes años varios logros en la reducción de la miseria, gracias a la participación del todo el sistema político, y la atención del PCV y la Asamblea Nacional, especialmente el apoyo de todos los pobladores.
Por su parte, Ousmane Dione, director nacional del Banco Mundial en Vietnam, confirmó que las políticas socioeconómicas del país indochino contribuyen a mejorar la calidad de la vida de millones de personas.
La tasa de pobreza de las minorías étnicas registró una reducción considerable, especialmente en el período 2014-2016 con una disminución de 13 por ciento, la mayor en la última década, detalló y alabó los esfuerzos por elevar el ingreso de los habitantes en las zonas apartadas y reducir la desigualdad.
Reducción de la pobreza multidimensional para el desarrollo sostenible
Por el hecho de que la calidad de la vida humana está relacionada con diversos aspectos de los ingresos, la Asamblea Nacional decidió en 2014 asignar al Gobierno la tarea de establecer una nueva línea de pobreza basada en un enfoque multidimensional para garantizar la calidad de vida y el acceso a servicios sociales básicos que se debe implementar desde 2016.
En 2015, el Gobierno vietnamita emitió una línea de pobreza multidimensional para el período 2016-2020, lo que marcó un avance importante en la transición de Vietnam de determinar los niveles de pobreza en base de los ingresos a los métodos multidimensionales.
Vietnam se ha convertido en uno de los países pioneros de la región Asia-Pacífico en la aplicación de métodos de medición de pobreza multidimensionales para reducir los hogares pobres en todas las dimensiones
En tal sentido, la línea de pobreza está determinada por 10 indicadores que miden la escasez de servicios sociales básicos, incluidos salud, educación, vivienda, agua potable, saneamiento e información.
Esos indicadores definen el objetivo de la reducción sostenible de la pobreza porque el riesgo de hambre y rehambre puede ocurrir por los incidentes del medio ambiente y el proceso de integración y desarrollo.
Vietnam se ha convertido en uno de los países pioneros de la región Asia-Pacífico en la aplicación de métodos de medición de pobreza multidimensionales para reducir los hogares pobres en todas las dimensiones. En el Plan de Desarrollo Socioeconómico 2016-2020, la nación fijó la meta de reducir la tasa promedio nacional de pobreza multidimensional a hasta 1,5 por ciento por año y particularmente en los distritos y comunas pobres hasta cuatro por ciento por año.
El uso de líneas nacionales de pobreza es esencial no solo para la elaboración de políticas, programas de erradicación de hambre y las labores de supervisión al respecto, sino también para el control del progreso de la implementación de los objetivos del desarrollo sostenible de las Naciones Unidas.
En el Plan de Desarrollo Socioeconómico 2016-2020, la nación fijó la meta de reducir la tasa promedio nacional de pobreza multidimensional a hasta 1,5 por ciento por año (Fuente: VNA)
Insafisfechos con los resultados alcanzados, el PCV, la Asamblea Nacional y el Estado dicidieron cambiar la política de reducción de pobreza hacia una forma más sostenible.
Con el fin de elevar la eficacia de la política, la Asamblea Nacional y el Gobierno combinaron todos los programas de reducción de la pobreza en el único “Programa de objetivos nacionales para la reducción sostenible de la pobreza en la etapa 2016-2020” que incluye cinco proyectos.
Los mencionados proyectos cuentan con el programa 30a (reducción rápida y sostenible de la pobreza en los distritos pobres), el programa 135 (desarrollo socioeconómico en comunas extremadamente pobres) y otros en pro a estos programas.
El “Programa de objetivos nacionales para la reducción sostenible de la pobreza en la etapa 2016-2020” está ligado con la la implementación de la estrategia para el desarrollo económico de 10 años (2011-2020) y el plan quinquenal del desarrollo socioeconómico.
Se trata de una actividad realizada en todo el país con un capital total de dos mil 93 millones de dólares, de ellos 95,7 por ciento provenienen del presupuesto estatal.
Hasta la fecha, 64 distritos vietnamitas se han salido de la pobreza de acuerdo con la Resolución del Gobierno número 30a/2008/NQ-CP sobre el programa de reducción rápida y sostenible de pobreza.
Crecimiento inclusivo
En el período 2016-2020, Vietnam despliega una serie de programas y políticas hacia la reducción sostenible de la pobreza multidimensional. A pesar de la reciente transformación del método de medición de la pobreza unidimensional a multidimensional, el sistema de políticas al respecto en Vietnam se considera un enfoque integral y multidimensional y ha cubierto la mayoría de las demandas de los pobres.
Particularmente, la mayoría de las políticas en la etapa 2016-2020 no son nuevas, pero se han mantenido desde el período anterior, con los ajustes adecuados. Junto con el crecimiento económico inclusivo, esos porgramas y políticas contribuyen a los logros de Vietnam en la reducción de pobreza.
El impresionante logro de la reducción de la pobreza en Vietnam durante las últimas tres décadas se califica de inclusivo
Caitlin Wiesen, representante permanente del Programa de las Naciones Unidas para el Desarrollo en Vietnam, resaltó las valoraciones internacionales positivas sobre los avances del país indochino en esas labores durante las últimas décadas.
También aplaudió los esfuerzos de Vietnam por el uso del enfoque multidimensional para medir la pobreza que ayuda a aliviar ese mal de manera más integral y beneficia a casi todos los habitantes.
Si un país no acaba con la pobreza, tendrá riesgos en cuanto al desarrollo insostenible, incluso las consecuencias de la inestabilidad socioeconómica, valoró.
Expertos acordaron que, para mantener los resultados positivos en esas labores, Vietnam debe continuar fortaleciendo cuatro pilares principales, a saber: Crear empleos con ingreso sostenible, ampliar la cobertura hacia la universalización de los servicios sociales básicos, mejorar el sistema del bienestar social para los grupos desfavorecidos y adoptar las políticas adecuadas.
Vietnam, segundo exportador de arroz en el mundo (Fuente: VNA)
Vietnam is targeting 3.6 billion USD in fruit export value for the whole year 2019, therefore, the agricultural sector has worked to set up stable material areas, and improve the quality of Vietnamese fruits so as to expand consumption market.
Vietnamese fruits have been present in 60 countries and territories worldwide, with export growth averaging 15 percent per year. Along with fresh fruits with short storage life, exporters are focusing on high-value added processed products. Deep-processing technologies applied Domestic and foreign consumers said that they have been impressed by the Vietnamese fresh fruits, however processed products have peculiar tastes, and they are suitable for long holidays due to their longer storage life. Chairman of Vinamit Joint Stock Company Nguyen Lam Vien, customers prefer dried fruits for Christmas Day, Lunar New Year, and international and regional sport events, creating motive for the fruit sector to invest heavily in deep-processing technologies. According to statistics from the Ministry of Agriculture and Rural Development’s Department of Crop Production, dragon fruits account for 50 percent of Vietnamese fruit exports’ value. The fruit has hit the shelves at supermarkets in 40 countries and territories worldwide, with China buying 80 percent of the total volume.
An orchard of red-flesh dragon fruit (Photo: VNA)
Vien said that fruit processing technologies are not a big problem for local firms anymore as his firm has been able to make a wide range of products from dragon fruits such as freeze dried dragon fruit and dried dragon fruit yogurt, most of which have been favoured in foreign markets for a long time. Many other fruits have been processed, including plums, custard-apples, grapes, mangos, bananas, jackfruits, and durians. The company also makes juice from the fresh fruits to take advantage of the fruit glut, helping prevent the trend of bumper crops leading to price drops. Promotion campaign needed to enhance product’s reputation Experts said that although Vietnamese fruits have been present in 60 foreign markets, it is necessary to increase promotion campaigns to nudge the products closer to the consumers. For example, with its impressive advertisements for blueberries, the US was successful to entice consumers worldwide to bore a hole in their pocket. The US scientists and exporters carried out 42 scientific researches on the substantial benefits of this fruit for people’s health.
Vietnamese exporters should learn experience from the US as they are in short of researches highlighting the fruits’ health effects.
Vietnamese exporters should learn experience from the US as they are in short of researches highlighting the fruits’ health effects.
Vietnamese longan is sold in Australian market (Photo: VNA)
According to the Food and Agriculture Organisation (FAO), demands for fruit and vegetables will increase in the time ahead as the world population is said to rise 2.5 billion people during 2011-2020.
The global need for fruit and vegetables picks up 3.6 percent per year while production growth only stands at 2.6 percent per year; therefore, Vietnamese fruit and vegetables sector holds huge potential to reach out to the world.
Global consumption growth will serve as a boost for Vietnamese staples, and exporters will have more opportunities to branch out their markets if they have good marketing strategies.
Farmers in Chieng Hac communes, Son La province’s Yen Chau district classify mangoes for exports (Photo: VNA)
Actually, foreign goods can penetrate into the Vietnamese market easily with import tax even falling to zero percent. Meanwhile, Vietnam has no stable technical barriers to protect domestic producers.
Australian fruits like Navel oranges, cherries and tangerines, as well as US cherries, pears, grapes, apples, and blueberries have flooded the Vietnamese markets. Besides, fruit imports from Thailand and China during January – August surged 40-50 percent from the same time in 2018.
In contrast, Vietnamese fruits have to qualify a lot of stringent standards before hitting the shelves of supermarkets in foreign countries. For example, major fruit importers such as Australia, Canada and the US require fruits to be irradiated before they enter the countries; and it would be too costly for northern producers as they have to transport their fruits to the Mekong Delta region for irradiation process.
“With existing technical barriers and a set of standards for imported products, choosy markets are able to protect their domestic production when the FTAs come into force. For instance, in a bid to be sold in Japan, Fhola bananas need to satisfy 145 criteria on plant protection product residues while there are 270 criteria for rice”, Minh said.
Developing high-quality material production zones
Mango production line of Southern Nafoods Joint Stock Company (Photo: VNA).
Chairman of the Vina T&T Group Nguyen Dinh Muoi said that businesses should invest more in material production zones as well as improve cultivating techniques for growers to create high-quality fruits, in the hope of meeting storage requirements in the choosy markets.
It seems like simple, but is a tough work for growers of fresh fruits, he said.
Not many enterprises stand ready to invest in high-quality material zones, serving domestic consumption and exports. Currently, only Hoang Anh Gia Lai Joint Stock Company and Lavifood Joint Stock Company develop large-scale material areas of 30,000 hectares and 10,000 hectares, respectively.
Longan – a specialty of Hung Yen province (Photo: VNA)
Fruits developed into a strategic product
Under the Ministry of Agriculture and Rural Development’s shake-up programme, fruit is a key agricultural products along with seafood, rice, cashew, wood and furniture, coffee, cocoa and pepper.
Statistics from the Department of Crop Production showed that the southern region has some 600,000 hectares of orchards as of August 2019, which yield around 6.6 million tonnes, or 67 percent of the country’s total volume. The Mekong Delta region alone has a fruit area of 350,000 hectares and the orchard coverage is expected to increase to 680,000 hectares by 2030.
Mango harvest in Cao Lanh city (Dong Thap province) (Photo: VNA)
The Mekong Delta province of Dong Thap has outlined smart solutions to boost the development of the fruit sector, including building brands for Cao Lanh mango, Lai Vung pink tangerine and Indo Chau Thanh longan, and facilitating the formation of co-operatives to shape up local fruit value chain.
Late ripening longans irradicated for exports to Australia (Photo: VNA)
Promoting fruit value chain linkages General Secretary of the Vietnam Fruit and Vegetables Association Dang Phuc Nguyen laid stress on the necessity to form a value chain where farmers and businesses are connected to develop high-quality products in accordance with VietGAP and GlobalGAP. The move will help Vietnamese fruits gain competitive edge both in domestic and foreign markets, he added. Currently, the orchard areas in Mekong Delta meeting international standards are small, accounting for only 10 percent of the total fruit plantation region. Additionally, there are 150 fruit processing plants across the nation, with 18 deep-processing facilities; however, the Mekong Delta region’s output is still lagging behind the plant’s capacity.
Southern Nafoods Joint Stock Company’s fruit processing chain (Photo: VNA)
The agriculture ministry said that only 30 percent of the country’s fruits are processed, the remaining fresh products are consumed domestically and exported. Actually, fresh fruits do not have high value due to their short shelf life. Nguyen Nhu Hien, an official from the Department of Crop Production’s southern office, said that the fruit sector needs to re-organise production while local firms should pay due attention to renew processing technologies so as to promote the efficiency of fruit production, processing and consumption. Besides, fruit brands and market development are deemed as the two important factors behind the success of the fruit sector. The trade promotion agencies must closely work with trade offices in foreign countries to study market taste in the host nations. This will help Vietnamese farmers and businesses have proper production plans.
A durian orchard grown under VietGAP standards (Photo: VNA)
Hanoi tiene millones de amantes en todo el mundo y cada persona expresa su amor por la capital vietnamita de manera diferente.
La cantante francesa de pop-rock La Grande Sophie (nombre real Sophie Huriaux) declaró su amor por la ciudad al escribir la canción “Hanoi”, que ha encantado a los amantes de la música en Vietnam y Francia.
Su canción fue honrada con el premio “Bui Xuan Phai- Por el amor a Hanoi”, que reconoce las contribuciones de individuos y organizaciones al desarrollo cultural y social de esa urbe.
La canción “Hanoi” de La Grande Sophie fue honrada con el premio “Bui Xuan Phai- Por el amor a Hanoi”
La obra fue elogiada por el jurado ya que “está profundamente imbuida del amor del cantante por Hanoi y difunde ese amor por esta ciudad entre los vietnamitas y en todo el mundo”.
Cuando La Grande Sophie interpretó la canción en Vietnam por primera vez en diciembre de 2015, conquistó los corazones de los lugareños, que se sensibilizaron ante el afecto de una foránea por su capital.
“Estoy muy conmovida por la decisión de los jurados. Me siento muy honrada”, dijo la cantante francesa.
Cuando La Grande Sophie interpretó la canción en Vietnam por primera vez en diciembre de 2015, conquistó los corazones de los lugareños, que se sensibilizaron ante el afecto de una foránea por su capital
“Yo amo Hanoi. Los recuerdos vuelven, me veo de nuevo en la ciudad”.
“Lo que me hace muy feliz es saber que los habitantes de Hanoi pueden reconocerse en la canción. Yo amo esta ciudad. Los recuerdos vuelven, me veo de nuevo en la ciudad”.
“Para celebrar esta feliz noticia, fui a comer bun cha (fideos con cerdo a la parrilla y hierbas), una de las especialidades de Hanoi, y encontré de nuevo todos los gustos que extraño”, escribió en un correo electrónico desde París.
Canción para Hanoi
La Grande Sophie escribió la canción “Hanoi” después de su primera visita a este país indochino en 2013. Fue invitada a actuar en la capital vietnamita en el Festival de música “Oh la la”, como parte de las actividades para celebrar el 40 aniversario de las relaciones diplomáticas entre Francia y Vietnam.
Desafortunadamente, el concierto fue cancelado debido al fallecimiento del general Vo Nguyen Giap. El país celebró un funeral estatal y declaró duelo nacional durante varios días.
La cantante francesa planeó visitar la antigua ciudadela imperial de Hue, en el centro del país, pero un tifón la impidió salir de la ciudad y la obligó a quedarse en Hanoi mucho más tiempo de lo que esperaba.
La artista se conmovió al descubrir la ciudad, su encanto y tradiciones con sus motocicletas, títeres acuáticos, triciclos y vendedores ambulantes
“Conocí a algunos traductores vietnamitas y me hice amigo de ellos. Me ayudaron a descubrir la ciudad. Hablaban un francés perfecto a pesar de que nunca habían estado en Francia. Me impresionó mucho ver su disposición a hablar mi idioma”, recordó Sophie.
La artista se conmovió al descubrir la ciudad, su encanto y tradiciones con sus motocicletas, títeres acuáticos, triciclos y vendedores ambulantes.
“Es interesante ver que la vida aquí gira en torno al lago Hoan Kiem. Estoy impresionada de ver la energía y el dinamismo de sus habitantes. Son tiernos y muy amables.
Canté sobre la ciudad como si la hubiera descubierto. Hanoi me dio el deseo de volver a tocar mi guitarra y componer canciones”.
“Canté sobre la ciudad como si la hubiera descubierto. Hanoi me dio el deseo de volver a tocar mi guitarra y componer canciones”, comenta la cantante
“Después de las excursiones por Hanoi, desarrollé un verdadero apego hacia mis nuevos amigos locales y hacia la ciudad. Me sentí triste cuando tuve que dejar Hanoi para regresar a París. Me dije que tenía que volver a Vietnam. Cuando volví a París, sentía mucha nostalgia por esta ciudad. Tomé mi guitarra y compuse la canción “Hanoi” para mantener todos esos recuerdos conmigo”, recordó.
“Hanoi me dio el deseo de volver a tocar mi guitarra y componer canciones”
En sus 20 años de carrera musical, esa fue la primera vez que la artista escribió una canción sobre una ciudad visitada por ella.
Gran éxito en Francia
La canción fue bien recibida en Francia cuando se presentó por primera vez al público en su nuevo álbum en 2015. Las personas que escucharon la canción escribieron en la página de fans de Facebook de la cantante diciendo que podían reconocer imágenes de Hanoi en el video y la letra. Otros dijeron que la canción les hizo querer visitar la capital vietnamita.
Una fan, Nadine Meihac, escribió: “Mientras escucho la canción, guardo un recuerdo encantador de su visita a Hanoi y espero ir algún día a esa ciudad”.
Otro fan, Stephen Bunard, compartió en Facebook: “una melodía muy hermosa y una letra agradable que hace que los que conocen esa ciudad sientan nostalgia”.
Una fan, Nadine Meihac, escribió: “Mientras escucho la canción, guardo un recuerdo encantador de su visita a Hanoi y espero ir algún día a esa ciudad”.
La cantante dijo que siempre le ha gustado interpretar esa canción durante sus conciertos.
“Le digo al público que los llevaré al país de las sonrisas. Pero no tengo tiempo para terminar mi oración. Algunos ya dijeron Hanoi”, se emocionó.
Sophie comenzó a escribir canciones cuando tenía 12 años. Para ella, la música es un medio de comunicación para hacer amigos y conocer gente interesante.
Cantar es transmitir sus emociones a los demás y pasar buenos momentos juntos. La Grande Sophie comenzó su carrera en la década de 1990, y vio fama por primera vez en 2004 cuando su tercer álbum, “If It Were Me”, le valió los primeros Victoires de la Musique, un premio musical en Francia.
Y con el prestigioso premio Bui Xuan Phai, ya tiene un lugar en el corazón de los amantes de la música vietnamita.
“Mi historia con Hanoi continúa y es una historia hermosa”
“Mi historia con Hanoi continúa y es una historia hermosa. Escribí la canción para recordar siempre este fantástico viaje realizado en 2013, así como las personas amables que conocí. ‘Hanoi’ me acompaña en todos mis conciertos. El público la espera, la aprecia. Viajamos juntos y creamos un fuerte vínculo con Vietnam”, expresó./.